Công ty giao dịch thuật toán dùng chương trình để ra quyết định, báo giá hoặc thực hiện lệnh. Đây là các việc khác nhau: ngân hàng, nhà tạo lập thị trường và quỹ có thể tự động hóa mà không cùng mô hình kinh doanh. Trước khi đánh giá nhà cung cấp, tách chức năng thuật toán, bên chịu rủi ro vốn và bên đối tác hợp đồng của bạn.

Những vai trò nào dùng thuật toán?

Nhà tạo lập thị trường báo giá mua/bán và quản lý phơi nhiễm phát sinh. Thuật toán thực hiện triển khai một mục tiêu mua hoặc bán đã chọn, thường chia lệnh nhỏ; không nhất thiết chọn hướng đầu tư. Thuật toán quyết định dùng đầu vào theo quy tắc để chọn lúc và thứ cần giao dịch. Báo cáo BIS phân biệt các chức năng có thể cùng tồn tại trong một tổ chức.

HFT là một nhóm trong giao dịch thuật toán, gắn với thời gian giữ ngắn và độ trễ thấp. Chương trình thực hiện lệnh qua thời gian dài hơn không tự thành HFT. Quỹ phòng hộ có thể dùng định lượng mà không làm tạo lập thị trường; thử thách prop trực tuyến không tự xác định một công ty giao dịch tổ chức.

Năng lực nhà cung cấp cần kiểm tra

Ngân hàng và bên phi ngân hàng đều có thể dùng công nghệ cùng vốn chịu rủi ro. Kiểm tra định giá, tiếp cận tín dụng, quản lý tồn kho và quan hệ khách hàng. XTX Markets mô tả cung cấp thanh khoản FX spot và thực hiện thuật toán cho các khách hàng gồm ngân hàng, quỹ và broker bán lẻ. Đây là mô tả dịch vụ của bên cung cấp; không xếp hạng toàn thị trường hoặc chứng minh ai xử lý một lệnh bán lẻ cụ thể.

Tài liệu FX tháng 10/2021 của Citadel Securities LLC nêu đơn vị này giao dịch với tư cách đối tác cho tài khoản mình, không làm đại lý của đối tác. Giá có thể khác theo cỡ giao dịch, thị trường, tồn kho và khẩu vị rủi ro. Tài liệu loại trừ các công ty liên kết khác, đồng thời không đại diện mọi giao dịch riêng lẻ. Không suy điều kiện cả tập đoàn từ một phạm vi công bố.

20% và 25% có thể mô tả cùng giao dịch

Ghi mẫu số trước khi so báo cáo. Chữ tỷ trọng khối lượng chưa giải quyết định nghĩa.

Cuộn ngang để xem hết sơ đồ.

Cùng khối lượng, hai mẫu sốTrong một cửa sổ và nguồn dữ liệu giả định, thuật toán khớp 10.000 EUR, bên khác 40.000 EUR. Tỷ trọng trong tổng 50.000 là 20%, tỷ số so bên khác là 25%. Hai thước đo tự đặt dùng cùng tập giao dịch.CÙNG TẬP GIAO DỊCHRiêng 10.000 EUR · bên khác 40.000 EURQ =10.000M =40.000Tỷ trọng trong toàn tậpQ / (Q +M) =10.000 /50.000 =20%Tỷ số so bên khácQ /M =10.000 /40.000 =25%Chênh 5 điểm phần trăm.Cùng nguồn và cửa sổ.Chỉ mẫu số thay đổi.

Tập EUR/USD giả định hoàn chỉnh trong một cửa sổ, một nguồn: riêng Q=10.000 EUR, bên khác M=40.000 EUR; mỗi giao dịch chỉ tính một lần bằng EUR, loại lệnh chưa khớp. Hai thước đo chỉ đặt cho bài tập, không phải tham số POV của nhà cung cấp hoặc thị phần FX toàn cầu. Báo cáo BIS về thuật toán thực hiện bàn về POV dựa khối lượng ước tính và giới hạn dữ liệu thị trường phân mảnh.

Hai kết quả đều đúng định nghĩa; không phải hai kết quả thực hiện khác nhau.

Báo cáo A chia 10.000 cho tổng 50.000, báo cáo B chia cho riêng 40.000 của bên khác. Chênh 5 điểm phần trăm không thêm giao dịch. Khi so phải cùng mẫu số, cửa sổ, đơn vị, nguồn. Cả hai đều chưa phải tỷ lệ hoàn thành lệnh mẹ.

Tạo lập thị trường, tốc độ và rủi ro

Spread không bảo đảm lợi nhuận. Hai kịch bản giả định riêng, không hoa hồng hoặc phí khác: mua 10.000 EUR ở 1,1000 USD/EUR, bán cùng lượng 1,1002 thì lãi 2 USD; nếu đóng sau giảm ở 1,0995 thì lỗ 5 USD. Phơi nhiễm giữa hai giao dịch có ý nghĩa. Đây là phép tính minh họa, không phải kết quả quan sát của công ty nào.

Thuật toán thực hiện giải quyết bài toán khác: mua 100.000 EUR chia 40.000 ở 1,1000 và 60.000 ở 1,1002 USD/EUR. Tổng chi 110.012 USD, giá bình quân theo lượng 1,10012. Chênh 12 USD so mua toàn bộ ở giá tham chiếu đầu, nhưng chưa chứng minh toàn lượng từng có sẵn ở giá ấy. Cần benchmark có thể đạt, tỷ lệ hoàn thành và chi phí.

Co-location có thể rút ngắn đường truyền; nội bộ hóa có thể bù trừ luồng trong một bên cung cấp. Cả hai không làm rủi ro tồn kho bằng 0. Với chữ prop, đọc hợp đồng cụ thể: FAQ CFD được dẫn của FTMO nói giao dịch trên nền tảng là mô phỏng với vốn giả định, còn dữ liệu có thể dùng riêng cho tài khoản thật của công ty. Đó không phải định nghĩa mọi chương trình prop hoặc mọi tổ chức dùng vốn tự có.

Spread và thanh khoản thay đổi thế nào?

So chi phí cho cùng nơi giao dịch, khách hàng, lượng và thời kỳ. Nhiều bên báo giá không bảo đảm mọi tài khoản bán lẻ có spread hẹp hơn. Báo cáo BIS 2020 xem đánh đổi giữa tác động thị trường, phơi nhiễm giá và khả năng hoàn tất lệnh. Báo giá có thể đổi hoặc mất, nhưng một cú tăng biến động không chứng minh mọi ngân hàng/thuật toán phản ứng giống nhau.

Đo thanh khoản với điều kiện rõ

Lưu Bid, Ask, cỡ có thể khớp, nơi, quyền tiếp cận khách hàng và thời điểm. Yên tĩnh không bảo đảm thanh khoản sâu hoặc không trượt; căng thẳng không nghĩa tất cả nhà cung cấp hành xử đồng nhất. Hai mức spread không xác định được công ty nào đã rút báo giá.

Lệnh chưa xong cũng có hệ quả đo được. Mục tiêu giả định mua 100.000 EUR, tham chiếu ban đầu 1,1000 USD/EUR. Chỉ 60.000 khớp 1,1002. Cuối cửa sổ chọn tham chiếu 1,1010 để so, không giả định là giá có thể giao dịch.

Chi phí giá và lượng chưa khớp là hai phần
Phần mô hìnhKết quảÝ nghĩa
60.000 EUR đã khớp12 USDChênh so tham chiếu đầu
40.000 EUR chưa khớp40 USDChi phí cơ hội giả định
Tổng so sánh52 USDKhông phải hóa đơn hoa hồng
Hoàn thành60%Còn 40% chưa mua

Phần đã khớp chi 66.012 USD, cao hơn tham chiếu 12 USD. Phần chưa khớp góp 40.000 ×(1,1010−1,1000)=40 USD vào thước đo cơ hội đã chọn. Chỉ báo 12 USD che mục tiêu chưa hoàn tất. 52 USD không phải phí đã trả hoặc tiền nợ: thực mua chỉ 60.000 EUR. Nó phụ thuộc benchmark và giờ kết thúc, không chứng minh có phương án thay thế thực hiện được.

Người học tại Việt Nam nên kiểm tra gì?

Đọc công bố và bản ghi thực hiện của broker. Spread hẹp hoặc tên nhà cung cấp nổi tiếng không chứng minh tuyến xử lý một lệnh. Cơ sở hạ tầng tổ chức khác thiết lập cá nhân; khung giờ cao hơn hay phân tích cơ bản không tự tạo lợi thế. Có thể dùng trang các bên tham gia thị trường để nối ngân hàng, quỹ và công ty thuật toán.

Thêm tiền báo cáo VND mà không đổi bản chất khoản tiền

Dùng riêng tỷ giá báo cáo giả định 25.000 VND/USD:12 USD chênh giá đã khớp tương đương 300.000 VND;40 USD cơ hội giả định là 1.000.000 VND; tổng thước đo 1.300.000 VND. Quy đổi không biến phần cơ hội thành tiền broker đã trừ. Lưu cột tiền thật, định giá và thước đo so sánh riêng, cùng múi giờ server và Asia/Ho_Chi_Minh khi ghép bản ghi.

Đây là bài về cơ chế thực hiện, không xác nhận quyền mở tài khoản, chuyển tiền hoặc dùng dịch vụ tại Việt Nam. Giấy phép nước ngoài và tên nhà cung cấp thanh khoản không tự xác lập quyền cung cấp ở Việt Nam. Cần đối chiếu hợp đồng, sản phẩm và cơ quan có thẩm quyền theo phạm vi hoạt động cụ thể.

Quy đổi VND không biến cơ hội thành phí

Quy đổi VND không biến cơ hội thành phíCùng tỷ giá báo cáo giả định 25.000 VND/USD cho ba loại khoản khác nhau.PHÉP TÍNH GIẢ ĐỊNHChênh fill12 USD =300.000 VNDChưa khớp40 USD =1.000.000 VNDThước đo gộp52 USD =1.300.000 VND
Quy đổi VND không biến cơ hội thành phí. Cùng tỷ giá báo cáo giả định 25.000 VND/USD cho ba loại khoản khác nhau.

Lưu bản chất khoản tiền bên cạnh quy đổi, không cộng mọi cột như phí thực.

Trên màn hình nhỏ, bạn có thể cuộn ngang hoặc phóng to sơ đồ. Các giá trị và kết luận cũng có ở phần văn bản bên dưới.

Chênh fill
12 USD =300.000 VND – So giá đầu, không gọi hoa hồng.
Chưa khớp
40 USD =1.000.000 VND – Chi phí cơ hội giả định, chưa trả broker.
Thước đo gộp
52 USD =1.300.000 VND – Phụ thuộc benchmark và thời điểm.

Làm gì sau khi đọc?

  1. Đọc hợp đồng và chính sách thực hiện. B-book không đồng nghĩa chỉ ghép các lệnh khách bằng nhau; danh sách nhà cung cấp không chứng minh routing.
  2. Lưu spread và độ sâu cùng thời điểm, đơn vị, quyền tiếp cận; không gán ý định từ hai báo giá.
  3. Chọn chiến lược và khung thời gian bằng bằng chứng, chi phí và ngân sách lỗ; giờ cao hơn không loại cạnh tranh thuật toán.